LÒ CAO NHUM trên sàn trăng

By

          Trước khi vào cửa ngõ Hòa Bình nhà thơ Nguyễn Thị Mai truyền cho tôi một "quân lệnh" bằng điện thoại: "Anh phải nhập đoàn với chị em làm mì chính cánh cho đoàn". Tôi thu xếp việc cơ quan rồi ra đường đợi.

          Đoàn nhà văn nữ của Hội Nhà văn Việt Nam có đâu trên chục chị mà tôi chỉ quen biết mỗi nhà thơ Nguyễn Thị Mai. Có hai nhà thơ quen mặt một ở Ban Sáng tác Hội Nhà văn một là nữ sĩ Bùi Sim Sim (làm báo gì đấy ở Hà Nội biết mặt là vì cùng tổ kiểm phiếu kỳ Đại hội VII Hội Nhà văn). Nhà thơ Nguyễn Thị Mai giới thiệu từng gương mặt tôi cũng ừ à vì tên tuổi cũng đã gặp đâu đó trên báo chí. Nhưng khi giới thiệu đến nữ sĩ Phạm Hồ Thu là phu nhân của cố nhà thơ Trần Quốc Thực thì tôi bỗng giật mình nhổm dậy xoay người về phía hàng ghế sau để nhận cho rõ gương mặt chị. Tôi còn một món nợ với cố nhà thơ Trần Quốc Thực rằng về Hà Nội tôi sẽ cầm theo chai rượu Mai Hạ (Rượu núi quê tôi) đãi ông một bữa. Chả là đầu năm 2001 tôi có gửi vào tủ sách của Tòa soạn báo Văn nghệ tập thơ mới in của tôi. Thời gian ngắn sau được đọc bài giới thiệu của nhà thơ Trần Quốc Thực về tập thơ đó trên báo Văn nghệ tôi rất lấy làm vui và mong muốn có một dịp được gặp ông để cảm ơn (Tôi chưa được gặp nhà thơ chỉ biết qua thơ và rất tâm đắc tập thơ Tháp cúc của ông và biết ông làm biên tập thơ ở báo Văn nghệ). Mong muốn đó như một món nợ cứ canh cánh đeo đẳng trong tôi cho đến ngày gặp chị Phạm Hồ Thu trong chuyến đi này.

          Rồi một hôm tôi đang dự Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia thì nhận được điện thoại của chị Phạm Hồ Thu mời tôi đến nhà ăn cơm. Anh Đăng Bẩy và Lã Thanh Tùng cũng tìm tôi rủ đến nhà chị lúc này tôi mới biết ngày này là ngày giỗ cố nhà thơ Trần Quốc Thực. Tôi lập tức theo Đăng Bẩy và Lã Thanh Tùng đi mua một chai rượu ngon đến nhà chị thắp nén hương.

          Cho đến nay tôi vẫn cứ canh cánh không được gặp trực diện nhà thơ Trần Quốc Thực ở trên cõi trần. Thôi thì tìm đọc lại bài viết của cố nhà thơ và đưa lên blog của mình để lưu giữ coi như nén tâm hương nghìn thu vậy.

                                                               

Lò Cao Nhum - Trên sàn trăng

 

                                                                   Trần Quốc Thực

 

          Muốn tìm gặp Sàn trăng của Lò Cao Nhum dứt khoát phải đi qua vùng Rẻo cao Pù Bin rồi. Gian khổ là cái chắc. Ở đấy có sấm rền bất chợt có gió lành gió độc có mưa như khóc có củi ướt khói bay đỏ mắt có cái nết lầm lỳ của người miền núi và cái tình Pù Bin bền như củi lửa bốn mùa... Rõ ràng ngay từ đầu Lò Cao Nhum đã không hề có ý định thi vị hóa con người và cảnh vật quê hương mình. Cái nếp ngay thẳng của người miền núi đã tạo cho anh có cách cảm xúc và diễn đạt khúc triết có độ nén riêng trong thơ.   Hòa Bình là một trong các tỉnh cửa ngõ của Tây Bắc và Hà Nội vậy mà chỉ riêng anh có Cây củi giữ lửa nhà sàn khi viết về người bà ruột thịt:

          Bà ơi thương bà đêm giêng lạnh

          Đệm bông lau cháu trải bà nằm

          ... Sàn bương lạnh thấm chân tê tái

          Lửa hồng từ tinh mơ bà nhen...

          Và cũng chỉ riêng anh nhìn ra được những mảnh nương trên đồi sao giống miếng vá trên lưng áo ông bà mình. Đọc lên mà nghe thấy xót xa cho một thời kinh tế manh mún đời sống nghèo kém truyền kiếp:

          ... Chuôi thuổng nắm mòn như eo lưng

          Mái đầu gùi lằn chai củ sắn

          Miếng vá in lưng áo

          Giống mảnh nương trên đồi...

          Những chi tiết thật gần gũi và độc đáo: Cái thuổng để đào củ sắn củ mài chuôi thuổng bị cầm nắm từ đời này sang đời sau đã mòn đi như eo lưng người miền núi vì leo dốc vì lao động cơ khổ thật xúc động. Lại thêm quai gùi lằn trên đầu hằn sâu thành chai như củ sắn nằm ngang khắc họa người mà khái quát một cuộc đời. Vì gùi cách ấy nên miếng vá mới sinh ra ở lưng áo chứ không ở vai. Quan sát của Lò Cao Nhum quả thật vô cùng tinh tế và sắc sảo. Không yêu quê mình không gần gũi sẻ chia với người quê mình sao có được nỗi niềm thương mến đến thế.

          Mảng thơ viết cho con tuy ít ỏi mà đọng nhiều ngẫm ngợi. Khi sinh con ông bố trồng cây bưởi. Đứa bé và cây bưởi cùng lớn. Rồi đứa bé đi học. Hình ảnh đứa bé cặp trái bưởi cạnh sườn nom như hình của điểm mười. Hình tượng ấy thật đẹp. Nó ngời tỏa được niềm hạnh phúc của người bố của các bậc làm cha mẹ. Hạnh phúc của sự nghiệp chăm cây chăm người là thế. Hạnh phúc đó khiến cho những lo toan thường nhật của người lớn không được phép đụng vào con trẻ. Sau bài Cây bưởi cho con thì bài Ngọn gió được viết cô đọng và chặt chẽ:

          Tiền giấy

          Tiền bút

          Tiền mực

          Tôi thốt lên.

          Bỗng nghe thì thào bên tai

          Ngọn gió:

          - Anh đừng đếm thế

          Các con chúng nó nghe!

          Thú vị nhất hứng thú nhất là cụm bài: Sàn trăng Bắt vợ Mưa nắng nhà mình Theo lời hát về nguồn... Ở phần này tác giả viết đằm bút hơn và cảm hứng cũng đầy trào hơn. Tình cảm đầu đời (Sàn trăng) được tác giả vẽ bằng nét bút tươi tắn sinh động:

          ... Bỗng một tiếng e hèm

          Tận nhà trong. Đánh thót.

          Như tiếng mèo đuổi chuột

          Nhào xô về cửa sổ

          Nhảy ùm xuống cỏ trăng.

Cảnh bắt vợ quả là độc đáo và trữ tình: Mặt trời của cha mặt trăng của mẹ thì Cửa đóng then cài. Chàng trai phải nghiêng lòng rình ngả tim ngóng để xem người mình yêu có ưng không. Tiếng khèn hổn hển là đã đến phút quyết định rồi. Và chàng trai hành động. Bạn đọc không chỉ được thưởng thức một phong tục đẹp mà còn mường tượng ra nhân vật trữ tình của bài thơ. Cảm xúc đầy ăm ắp này còn tràn đẫm Theo lời hát về nguồn - Nơi tác giả đi ra thiên hạ để rồi trở về nguồn cội của mình với một tâm thế thuần hậu nhân hòa:

          Được lòng gấu sẽ không mất lòng hổ

          Được lòng nỏ không mất lòng sóc

          Phải lòng nước tự vui lòng cá

          Phải lòng nà khắc đẹp lòng lúa...

                                      (Bài 6)

          Sàn trăng tập thơ thứ tư của Lò Cao Nhum ghi dấu nhiều thành công nhiều hứa hẹn. Mặt khác Sàn trăng cũng ghi dấu một mốc mới một chặng đường mới của nhà thơ - Chặng đường thơ của một hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

 

                                                                        Hà Nội ngày 1 tháng 5 năm 2001

More...

Ngày thơ Việt Nam tại Văn Miếu Quốc Tử Giám 2011

By

 

Ngày hội thơ Việt Nam 2011: "Nóng" sân thơ trẻ...   


 


               
VanVn.Net - Sáng 28/2/2011 đúng này Rằm tháng giêng Ngày thơ Việt Nam 2011 đã tưng bừng khai mạc tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ngay từ buổi sáng sớm mặc dù trời lất phất mưa xuân trong tiết trời giá rét nhưng đã có hàng ngàn các nhà văn nhà thơ người yêu thơ và khán thính giả đến tham dự. Như thường lệ Sân thơ hiện đại năm nay thu hút đông đảo khán giả đặc biệt là các bạn trẻ. Kết cấu chính của sân thơ trẻ gồm sân khấu lớn nằm ở chính giữa hai bên là các cây thơ và quán thơ của các nhà thơ trẻ và nhóm các nhà thơ trẻ.

            Đúng 9h sân thơ trẻ chính thức được khai mạc. Hình thức thể hiện của các nhà thơ trẻ trong Sân thơ hiện đại năm nay với chủ đề "Blog xuân" khá đơn giản không cầu kỳ với các tiết mục trình diễn thơ và sắp đặt thơ như các năm trước. Một điều khá độc đáo tại Sân thơ hiện đại năm nay là biên độ lứa tuổi các nhà thơ tham dự được "nới" rộng ‘kịch biên" với lứa tuổi từ 8X trở về đến 5X như: Lò Cao Nhum (1954 dân tộc Thái) Mai Văn Phấn (1955); lứa U50: Nguyễn Thúy Quỳnh (1968 Phó Chủ tịch Hội VHNT Thái Nguyên) Hữu Việt (1963) Nguyễn Vĩnh Tiến (1974) Phan Huyền Thư (1972) Phạm Vân Anh (1980).


            Các tác giả chủ yếu đọc tác phẩm thơ của mình trên nền nhạc đệm kết hợp với vũ đạo. Tuy nhiên chính vì cách thể hiện tác phẩm khác "mộc" như vậy mà tác phẩm của các tác giả lại được khán thính giả đón nhận khá nhiệt tình. Phần thể hiện của các tác giả Lò Cao Nhum Mai Văn Phấn Nguyễn Vĩnh Tiến Du Nguyên Trịnh Sơn... nhận được đánh giá cao của khán giả và để lại nhiều ấn tượng tốt.


            Bên cạnh sức hút của sân khấu chính các cây thơ và quán thơ cá nhân của các tác giả cũng thu hút một lượng lớn khán giả quan tâm. Các tác giả xuất hiện ở poster và thi quán bao gồm: Mai Văn Phấn (Tác phẩm: Bầu trời không mái che Hôm sau và đột nhiên gió thổi) Vi Thùy Linh (tác phẩm "Phim đôi - Tình tự chậm") Nguyễn Phan Quế Mai (tác phẩm Cởi gió Giải nhất cuộc thi "Thơ về Hà Nội 2008-2010" Giải thưởng Thơ 2010 của Hội nhà văn Hà Nội) Nguyễn Bảo Chân (tác phẩm Những chiếc gai trong mơ) Đoàn Văn Mật - Lữ Thị Mai (tác phẩm Giữa hai chiều thời gian Giấc) Nguyễn Quang Hưng (tác phẩm Vườn ánh sáng)...

                Bên cạnh đó khu vực thi quán và poster cũng thu hút đông đảo sự quan tâm của người yêu thơ. Đặc biệt tại các thi quán Khoa sáng tác lý luận và phê bình văn học (trường đại học Văn hóa). Và thi quán dành riêng cho các tác phẩm của các tác giả thơ hiện đại đến từ miền Nam và Tây nguyên do nhà thơ Tuệ Nguyên (Ninh Thuận) Trịnh Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu) và Nguyễn Đức Phú Thọ (An Giang) đại diện.


                        
           Các nhà thơ giao lưu với công chúng tại Sân thơ Hiện đại từ trái sang: Mai Văn Phấn Lò Cao Nhum Phan Huyền Thư  
               Phùng Hải Yến Du Nguyên Vi Thùy Linh Phạm Vân Anh Hoàng Anh Tuấn Phùng Thị Hương Ly  Nguyễn Thúy Quỳnh  
               Hữu Việt Nguyễn Vĩnh Tiến Trịnh Sơn và MC Nguyễn Hữu Chiến Thắng.


           
Tham dự Sân thơ hiện đại 2011 nhiều bạn trẻ chia sẻ cảm xúc của mình khá khác nhau. Bạn Lê Bảo - cựu sinh viên khoa Viế văn chia sẻ: "Nhìn chung tôi thấy sân thơ năm nay có những hấp dẫn riêng ở mặt chất lượng các tác phẩm thơ. Tuy nhiên thiếu phần trình diễn và sắp đặt thành ra sân thơ cũng kém rôm rả hơn". Bạn Nguyễn Lan Hương - sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội lại cho rằng: "Thơ được đọc bằng giọng mộc như vậy khiến người nghe cảm và thẩm thấu dễ hơn. Việc đưa thơ kết hợp với các loại hình khác thực ra chỉ làm tăng sự thu hút về bề nổi mà thôi. Vì thế tôi thích sân thơ trẻ trong ngày hội thơ như thế này hơn".         

                                                                          Nguyễn Anh Thế (Nguồn Vănvn.net)

More...

DU KÝ MIỀN TRUNG TÂY NGUYÊN

By

 

 Du ký miền Trung Tây Nguyên

LÒ CAO NHUM
(Theo nhật ký hành trình của họa sĩ LÊ HỒNG LỰU) 


Tìm hiểu khám phá văn hóa một vùng miền là khát vọng nung nấu từ lâu của anh chị em làm báo VĂN NGHỆ HÒA BÌNH nhưng mãi chưa có cơ hội. Cơ hội ngày càng hiếm khi báo ra hai kỳ một tháng khi biên chế chẳng bao giờ đạt được yêu cầu của nó  anh chị em kiêm nhiệm vừa báo vừa hội (Đặc thù báo chí văn nghệ địa phương chăng?). Năm 2010 báo Văn nghệ Hòa Bình tròn tuổi 15 biên chế hòm hòm công việc vào guồng cái khát vọng nung nấu bấy lâu nay bỗng trỗi dậy. Anh chị em cơ quan đồng thanh hô: Không có cơ hội thì tạo lấy cơ hội. Thế là sau những tháng ngày mệt mỏi tạo "cơ hội" làm ngày làm đêm cả ngày lễ ngày nghỉ cuối tuần cuối cùng anh chị em cũng đã chọn được ngày lành tháng tốt chọn được giờ Hoàng đạo bước lên chiếc xe ô tô thuê 7 ghế ngồi đi rong ruổi khám phá miền đất giầu di sản văn hóa nhân loại những di tích lịch sử đau thương vào hàng nhất nhì đất nước những tính cách góc cạnh sắc nét ra tấm ra món của con người miền Trung Tây Nguyên những danh lam kỳ thú những miền đất du lịch lễ hội những món ẩm thực độc đáo phong phú cũng vào hàng nhất nhì. Sau đây là vài hình ảnh của chuyến du hí ấy.  


Qua cầu Trường Tiền dừng chân.


Chờ đồng nghiệp bên chùa Thiên Mụ.


Suy cảm chùa Thiên Mụ.


Sau chiều Sơn Trà Ngũ Hành Sơn và đêm Hội An lung linh đèn lồng phố cổ sáng hôm sau đoàn bon thẳng vào Nha Trang. Ngày đêm ở thành phố du lịch biển thật dễ chịu và thú vị.


Nếu dải dọc miền Trung chúng tôi ngắm nếm (ẩm thực) và suy cảm nhiều hơn thì đến Đà Lạt ai nấy đều nở bừng những nụ cười tươi như các loài hoa của chính thành phố này. Ấy là bắt đầu từ lúc gặp gỡ nhà văn Lê Công Tổng biên tập tạp chí văn nghệ Langbiang (thứ 3 từ trái sang) và anh chị em Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng. Đích thân nhà văn Lê Công đưa đoàn đến các điểm văn hóa du lịch tiêu biểu của Đà Lạt.


Tại ga cáp treo đi hồ Tuyền Lâm và Thiền Viện Trúc Lâm từ trái sang: Nguyễn Thị Ngọc (Kế toán)   họa sĩ Vũ Minh Dương nhà văn Lê Công (Lâm Đồng) Nguyễn Kim Luyến (Trị sự báo) nhà thơ Lò Cao Nhum họa sĩ Lê Hồng Lựu Hồng Xuyến (Thủ quỹ) và nhà văn Bùi Minh Chức.


Nhà thơ Vũ Nguyên (Công tác tại Đài phát thanh truyền hình Lâm Đồng thứ 6 từ trái sang) bấm máy ảnh xong cũng kịp đứng cùng đoàn. Phía xa kia là thành phố Đà Lạt và dãy núi Langbiang huyền thoại.




Thảnh thơi trong khuôn viên Thiền Viện Trúc Lâm.


Tạm biệt Đà Lạt chúng tôi đến thành phố Buôn Ma Thuột.


Đến thành phố Plâyku.


Rồi đến Kon Tum. Ở đây nhà thơ Tạ Văn Sỹ cùng hai cây bút Hồng Thủy Tiên Phan Doãn Mãi rất trẻ đẹp mà thơ hay của Kon Tum đã pha cà phê đợi. 


Phan Doãn Mãi đây.


và nhà thơ Tạ Văn Sỹ.


Điều bất ngờ đối với nhà thơ Lò Cao Nhum là con rể và con gái đang làm thủy điện bên nước bạn Lào nghe tin bố Nhum qua Kon Tum  đã đi xe máy từ bên kia sang đón và tổ chức sinh nhật cho bố. Cuộc hội ngộ thật vui và cảm động. Từ trái sang: Con gái bố Nhum Lò Thị Đan Hương con rể Lã Ngọc Hưng nhà thơ Lò Cao Nhum và họa sĩ thiết kế báo Văn nghệ Hòa Bình Lê Hồng Lựu tại một quán cà phê thành phố Kon Tum do nhà thơ Tạ Văn Sỹ tổ chức tiếp đoàn.


Bức ảnh dọc đường cuộc hành trình qua miền đất Tây Nguyên.

 

Đoàn báo Văn nghệ Hòa Bình rời Kon Tum  chào Ngọc Hồi theo đường Hồ Chí Minh trôi đèo Lò Xo dằng dặc ngoằn nghèo xuôi về Đà Nẵng  đi qua lễ bế mạc Festivan ướt sũng trong mưa tại thành Huế kịp về thành cổ Quảng Trị thắp nén nhang cho người nằm dưới cỏ  để rồi trên đường ra Bắc ai nấy còn ám ảnh mãi câu thơ của nhà thơ Lê Bá Dương: Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm...

                                                                                                L.C.N. và L.H.L.
 

More...

Chữ Thái ở Việt Nam

By

1

Chữ Thái ở Việt Nam



Cầm Trọng

Chương trình Thái học Việt Nam

Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển

Đại học Quốc gia Hà Nội




Theo cuộc tổng điều tra dân số ở Việt Nam do Tổng cục Thống kê tiến hành ngày

1/4/1999 dân tộc Thái có 1 328 725 người đông thứ ba sau người Kinh và Tày.

I. Các mẫu tự Thái ở Việt Nam

Ở Việt Nam Thái là dân tộc thiểu số có tiếng nói và sớm có chữ viết riêng. Theo cuốn

Quan Tô Mương (kể chuyện Mường) thì chữ Thái Đen dòng Tạo Xuông Tạo Ngần ở đất

Mường Lò (nay là huyện Văn Trấn và thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái) đã có từ thế kỉ XI.

Có lẽ do trước đây kém tiếp xúc giữa các vùng nên người Thái đã cho ra đời 8 loại

hình kí tự cổ khác nhau. Tuy nhiên cả 8 loại hình kí tự ấy đều bén rễ từ một gốc chữ

Sanscrit (Ấn Độ) thông qua mẫu tự Khmer. Chúng hoàn toàn giống nhau về nguyên tắc dùng

phụ âm nguyên âm để ghép vần ghi được âm tiết Thái. Tám loại hình kí tự cổ đó là:

1. Chữ Thái Đen ở các huyện thuộc tỉnh Lai Châu Điện Biên Sơn La Yên Bái Lào

Cai.

2. Chữ Thái Trắng ở huyện Phong Thổ.

3. Chữ Thái Trắng ở huyện Mường Lay Mường Tè (Điện Biên).

4. Chữ Thái Trắng ở huyện Phù Yên.

5. Chữ Thái Trắng ở huyện Mộc Châu (Sơn La) Mai Châu Đà Bắc (Hoà Bình).

6. Chữ Thái Đen - Tay Thanh ở miền Tây Thanh Hoá và Nghệ An.

7. Chữ Thái ở Châu Quỳ (Ngệ An).

8. Chữ Thái mang tên Lai Pao ở huyện Tương Dương (Nghệ An).

II. Chữ Thái trong lịch sử

II.1. Trước khi thực dân Pháp xâm lược đất nước và miền quê

hương

Chắc chắn chữ Thái là phương tiện duy nhất để ghi chép các thông tin kinh tế xã hội

văn hoá của dân tộc. Và như thế chữ Thái cổ đã trở thành di sản văn hoá của tộc người và

nhân dân Thái.

2

II.2. Trong thời kì Pháp thuộc và tiền khởi nghĩa tháng 8/1945

Năm 1943 một giáo sĩ đạo tin lành tên là Jean Funé đã đến thị xã Sơn La để truyền

đạo. Ông đã cùng một số trí thức Thái nghiên cứu và cải tiến chữ Thái Đen để phổ biến kinh

thánh. Việc không thành vì người Thái không ai theo đạo.

Chữ Thái tuy không được đem ra dạy ở trường sở nhưng lại được dùng một cách rộng

rãi trong sinh hoạt hàng ngày. Mọi công văn giấy tờ ở cấp Châu Mường (tương đương với

huyện ngày nay) đều dùng tiếng và chữ Thái.

Từ trong nhà tù đế quốc Pháp các chiến sĩ cách mạng đã học chữ Thái và tiếng Thái.

Chính từ ngục thất ngày ấy đã vọng ra bài ca cách mạng bằng chữ Thái:

      Bây giờ chúng ta cực khổ

        Gạo cơm chẳng có ăn vào rừng đào củ mài

         Nhưng núi rừng củ mài rồi cũng hết

       Làm không ra vợ con còm cõi

        Thuế không đủ lại còn phu lính

      Hỡi anh em! Thái ta hãy đứng lên

Nguyễn Văn Trân

Sáng tác năm 1941 ở ngục tù Sơn La

Trong thời kì vận động cách mạng tiền khởi nghĩa tháng 8/1945 Hội người Thái Cứu

quốc đã xuất bản tờ báo Lắc Mường (cột trụ đất nước) bằng chữ Thái "    ...

           ..." (Đừng chia rẽ Thái Kinh.. hãy cùng nhau

noi gương quân du kích ở bên Việt Bắc đánh đuổi Nhật...)

II.3. Trong kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp và can

thiệp Mĩ (1946-1954)

Phía ta

vẫn tiếp tục dùng chữ Thái như một phương tiện để tập hợp lực lượng kháng chiến

chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ. Là người Thái đương thời có mấy ai không thuộc bài

thơ "Ta có lòng cảm tử ta không sợ" của Chu Văn Thịnh:

       Lòng quả cảm vốn sẵn ta nào sợ

         Xung phong giết quân ác chẳng hề run

       Liều mình vào nơi bom đạn súng

       Đem lòng gan xem thường chết để giết giặc

         Vỗ ngực hừng hực giết giặc Tây gian ác

       Ngàn đồng lòng gan dạ để giết giặc

           Lần này ta giết giặc để giành lấy đất nước

thân yêu của ta đó!

Tiếp đó là những bài thơ vận động kháng chiến bằng chữ Thái của các nhà thơ: Lò Văn

Mười Hoàng Nó Lương Quy Nhơn Cầm Biêu... Bài thơ nào cũng sôi sục đầy khí phách

của một dân tộc anh hùng.

3

Năm 1953 theo gợi ý của Bác Hồ muôn vàn kính yêu cụ Sa Văn Minh Lò Văn San

nguyên đại biểu quốc hội khoá I đã tập hợp trí thức người Thái để thành tổ chức trực thuộc

Ty Giáo dục Sơn La về sau là Sở Giáo dục khu Tây Bắc để nghiên cứu thống nhất chữ Thái.

Phía địch

Sau khi tạm chiếm vùng Tây Bắc năm 1948 người Pháp và chính quyền tay sai đã

không dùng chữ Thái cổ nữa thay vào đó là bộ chữ Thái la tinh do chuyên gia Pháp tên là

Martini đứng đầu. Mẫu tự la tinh này lấy chữ Pháp làm nền dùng tiếng Thái Trắng ở Mường

Lay làm chuẩn và vẫn giữ cấu trúc phụ âm đôi gồm tổ thấp và tổ cao.

II.4. Sự ra đời của chữ Thái Thống nhất và Cải tiến

Trước tiên xin khẳng định một điều rằng việc thống nhất và cải tiến chữ Thái ở vùng

Tây bắc vốn có các mẫu tự: 1 2 3 4 5 khác nhau không phải là tự phát mà là sản phẩm

của cách mạng do Đảng Chính phủ và Bác Hồ chủ trương. Ban lãnh đạo khu uỷ Tây Bắc cũ

là cơ quan lãn hđạo trực tiếp chính quyền khu tỉnh cụ thể là Sở và các Ti Giáo dục là cơ

quan tổ chức thực hiện. Việc thực hiện chủ trương này diễn ra hai quá trình liên tục:

II.4.1 Chữ Thái thống nhất

Cuối năm 1953 bộ chữ Thái mang tên Thống nhất ra đời. Chúng ta có thể coi đây là

bước đi ban đầu. Sau khi đem bộ chữ này đi dạy ở các lớp bổ túc văn hoá và cấp I phổ thông

với 41 cơ sở trường lớp niên khoá 1956-1957 trong toàn khu; sau khi đúc thành thỏi chữ

bằng hợp kim chì thiếc chữ Thái Thống nhất được xếp thành bản chữ in máy (typography)

đã bộc lộ nhiều nhược điểm cần được cải tiến và làm cho khoa học thêm một bước.

II.4.2 Chữ Thái cải tiến

Năm 1957 bộ phận nghiên cứu chữ Thái của khu Tây Bắc lại bắt đầu tiến hành công

việc. Cuối năm 1958 bộ chữ Thái Thống nhât mang tên Chữ Thái Cải tiến ra đời. Các lớp

học chữ Thái trong toàn khu tự trị Tây Bắc cũ tiếp tục được duy trì phát triển và nhanh

chóng chuyển đổi sang dùng bộ chữ cải tiến trong các niên khoá từ năm 1957-1958. Phương

tiện in ti pô không dùng được nên buộc lòng bộ phận tu thư của khu Tự trị tây Bắc thời bấy

giờ đã phải dùng phương pháp viết tay để chụp in trên bản kẽm (zincography). Chữ Thái

Cải tiến với chương trình học song ngữ được gọi là chương trình học xen kẽ thời đó đã có

tác dụng rất tốt. Ngày 27/11/1961 thay mặt Hội đồng Chính phủ Thủ tướng Phạm Văn Đồng

đã kí Nghị định số 206/CP cho phép vùng người Thái sử dụng chữ Thái.

Bộ chữ này có những ưu điểm sau:

1. Phát huy đầy đủ tính truyền thống của các bộ chữ Thái cổ. Đó là việc giữ nguyên tổ

hợp phụ âm cặp đôi mang hai thanh điệu thấp được gọi là tổ thấp và cao được gọi

tổ cao. Tiếp thu và giữ nguyên các cặp phụ âm để ghi âm đặc biệt của người

Thái Trắng ở Lai Châu là : ts f (đọc mím môi bật hơi) kh (đọc cong lưỡi bật tắc

hơi). Thêm vào 2 cặp phụ âm mới g (gờ) gh và r (đọc rung lưỡi). Vì mỗi cặp phụ

âm đã mang hai thanh điệu thấp (tổ thấp) và cao (tổ cao) nên chữ Thái cải tiến đã

đưa ra hai kí hiệu e và j đặt ở cuối mỗi đơn vị ngữ vựng mang đầy đủ âm tiết của

một từ căn biểu thị một ý nghĩa của ngôn ngữ. Trong khi không có bộ chữ Thái cổ

nào có kí hiệu thanh điệu thì bộ chữ Thái cải tiến đã giải quyết một cách cơ bản và

chính xác điều đó bằng cách thêm hai kí hiệu:  và . Tiếng Thái Đen và Thái Trắng

phía bắc có 6 thanh điệu được ghi theo thứ tự cung bậc như ví dụ sau

4

Tổ thấp Tổ cao

 (ma) con chó  (mã) về lại

 (má) ngâm gạo  (mà) sông Mã

 (mả) đạn súng  (mạ) ngựa

2. Do có đầy đủ hệ thống nguyên âm kép và đơn chẳng hạn ia iê ê; ua uô ô

ưa ươ và ơ ă () và ơ nên bộ chữ này có thể ghi tất cả các nét đặc thù của tiếng nói

và giọng nói từng vùng thổ ngữ.

3. Học xong chữ cải tiến người ta vẫn có thể đọc được tất cả các dạng mẫu tự cổ.

Đương nhiên để thực hiện được việc này đòi hỏi người biết chữ Thái cải tiến phải

có bảng đối chiếu so sánh khoa học đơn giản dễ hiều và rõ ràng.

4. Các con chữ được nhất loạt xếp hàng ngang không viết theo cách đặt nguyên âm

trên dưới như các bộ chữ cổ. Do đó bộ chữ này đã đi gần với bảng chữ quốc ngữ.

Bây giờ để tiến tới có một bộ chữ Thái thống nhất hoặc gọi là chữ Thái chuẩn hoá cho

các vùng Thái tôi xin giới thiệu bộ chữ Thái cải tiến mang đầy đủ cơ sở khoa học và pháp lí

từ năm 1961 để trình bày như sau.

II.5 Bảng hệ thống phụ âm (Tô)

ST

T

Quốc

ngữ

Cách

đọc

Tổ

thấp

Tổ

cao

1 b bo  

2 c k q co  

3 ch tr cho  

4 kh kho  

5 d gi r do  

6 đ đo  

7 h ho  

8 l lo  

9 m mo  

10 n no  

11 nh nho  

12 ng ngh ngo  

ST

T

Quốc

ngữ

Cách

đọc

Tổ

thấp

Tổ

cao

13 o o  

14 p po  

15 ph f pho  

16 s x xo  

17 t to  

18 th tho  

19 v vo  

20 g gh go  

21 r ro  

22 ts tso  

23 kh kh o  

24 f fo  

5

Chú ý

Nếu bảng hệ thống phụ âm (Tô) này được thừa nhận trong bộ chữ thống nhất của người

Thái ở Việt Nam thì khi áp dụng vào các vùng thổ ngữ Thái sẽ có những thuận lợi và không

thuận lợi sau:

1. Tuyệt đại bộ phận dân tộc Thái kể từ cán bộ trung cao cấp của Đảng và Nhà nước từ tiến

sĩ đến những người bình thường đang sinh sống ở làng bản trong 8 tỉnh: Yên Bái Lào

Cai Sơn La Lai Châu Điện Biên Hoà Bình Thanh Hoá Nghệ An và rải rác ở vùng Tây

Nguyên đang không biết hoặc biết bập bõm chữ Thái mà bắt tay vào học tiếng với việc

sử dụng văn tự Thái thống nhất thì hoàn toàn thuận lợi không có điều gì phải bàn. Đối

với họ chữ Thái thống nhất hoàn toàn đồng nghĩa với chữ Thái của dân tộc Thái ở Việt

Nam vậy.

2. Số ít người đang biết chữ Thái cổ ở mức có thể sử dụng để biểu đạt tư duy tình cảm của

mình chắc sẽ có thuận lợi hoặc trở ngại sau:

Các vùng Thái Trắng Bắc Nam và nhóm Thái Đen - Tay Thanh ở miền Tây Thanh

Hoá Nghệ An thì chỉ cần xem bảng đối chiếu rồi chuyển đổi nét viết từ chữ cổ sang

kiểu chữ thống nhất. Điều đó có khác nào chữ viết thường chuyển sang chữ viết hoa

trong quốc ngữ.

Đối với người Thái Đen ở Tây Bắc [trừ nhóm Tay Vạt (Yên Châu Sơn La)] sẽ phải

phân biệt và viết đúng những tiếng có phụ âm đầu: l và đ; v và b - ví dụ: đay (thang)

và lay (chảy); van (ngọt) và ban (bừa ruộng).

Đối với người biết chữ Thái Quỳ Châu cổ thì cần xem tập đối chiếu giữa mẫu tự Thái

thống nhất với chữ Thái Quỳ Châu do Chương trình Thái học Việt Nam (Viện Việt

Nam học và Khoa học phát triển - Đại học Quốc gia Hà Nội) để chuyển đổi một cách

cơ bản với 2 lí do:

Mẫu tự cổ Quỳ Châu mang đặc điểm nửa Hán tự nửa Thái tự nên cách viết thì

theo hàng dọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Ngược lại bộ chữ Thái cải

tiến mà tôi dùng làm căn cứ để giới thiệu ở đây lại viết từng hàng theo chiều

ngang của trang giấy như kiểu chữ quốc ngữ.

Hệ thống phụ âm của chữ Thái Quỳ Châu cổ có 29 chữ cái trong khi bộ chữ Thái

cải tiến lại có 48 chữ cái xếp thành 24 cặp để tạo thành tổ thấp và tổ cao mang

thanh điệu khác nhau. Ngược lại bảng hệ thống phụ âm của mẫu tự Quỳ Châu cổ

chỉ có 8 cặp đôi tương đương là: co ho o mo xo to nho pho. 13 chữ khác thì

đứng lẻ hoặc ở hệ thống tổ thấp như: bo đo no kho tho go qo; hoặc ở tổ cao

như: do. lo. vo ngo pho.

6

II.6 Bảng hệ thống nguyên âm và ghép vần (may và poọng)

TỔ HỢP VỚI 8 PHỤ Stt. Quốc ÂM CUỐI

ngữ

Cách

đọc

Tổ

hợp 1

phụ

âm

: c ch : p : t : m : n :ng

nh

:i y :o

u

1 a ca

ka  

       

2 ă căng  

     

3 â câng  

      

4 o o  

      

5 ô cô

công  

      

6 ơ cơ  

      

7 e ke  

      

8 ê kê  

      

9 i ki  

      

10 u cu  

      

11 ư cư  

       

12 oa kavo

 

      

13 ia iê kia  

      

14 ua

uô cua  

      

15 ưa

ươ cưa  

      

16 oe que  

   

17 uê quê  

   

18 au cau

lọm 

19 ay kay 

7

TỔ HỢP VỚI 8 PHỤ Stt. Quốc ÂM CUỐI

ngữ

Cách

đọc

Tổ

hợp 1

phụ

âm

: c ch : p : t : m : n :ng

nh

:i y :o

u

20 aư caư 

21 uya

uyê quya  

 

22 uy quy  



Kí tự được dùng trong bảng hệ thống nguyên âm và ghép vần này là kí hiệu cho một phụ âm có thể được đặt vào vị trí đó. Vì  vừa là kí hiệu phụ âm vừa là kí hiệu nguyên âm nên cần phải lưu ý tính chất đại diện

của nó được viết trong bảng này.

Khi bộ chữ Thái cải tiến này trở thành chữ thống nhất được người Thái ở khắp nơi học

và dùng để ghi âm theo thổ ngữ của vùng mình thì sẽ có các hiện tượng sau đây xảy ra:

1. Với nhóm Thái Đen ở miền Tây Bắc thì hoàn toàn thuận lợi vì tiếng của họ có đầy đủ cơ

số nguyên âm đơn kép như trong bộ chữ Thái cải tiến.

2. Với nhóm Thái Trắng ở các huyện: Quỳnh Nhai (Sơn La) Mường Lay Mường Tè (Điện

Biên) Phong Thổ (Lai Châu)... do tiếng nói không có nguyên âm kép mà qui về nguyên

âm đơn trong các trường hợp:

- ia iê ê

- ua uô ô

- ưa ươ ơ

Như vậy khi viết người ta chỉ cần dùng một nguyên âm đơn ê ô ơ. Ví dụ

Thái Đen nói và viết

          Hê pên phua pên mia cọ báu hê dệt hươn

Dịch: Chưa thành chồng thành vợ cũng chưa làm nhà

Thái Trắng miền Bắc nói và viết:

         

Hê pin phô pin mê cọ báu hê dệt hơn

3. Cũng tương tự như vậy với tiếng Thái Trắng ở Phong Thổ (Lai Châu) không có nguyên

âm kép oa ( ) nên qui hết về nguyên âm a. Ví dụ nói "con nai" là tô cang và viết là 

 không nhất thiết phải viết như tất cả các nhóm Thái là tô quang (   ).

4. Cũng tương tự như thế với tiếng Thái ở Phù Yên Mộc Châu (Sơn La) Mai Châu Đà

Bắc (Hoà Bình) nhóm Tay Mương Tay Thanh ở miền Tây Thanh Hoá Nghệ An do

tiếng nói không có nguyên âm kép aư mà qui tất cả thành ơ. Khi dùng chữ này thì chỉ cần

viết một trong hai nguyên âm  hoặc  . Ví dụ: hua chơ (trái tim) thì viết thành  (hua

chaư) hay  (hua chơ) đều được.

8

II.7 Thanh điệu và dấu

II.7.1 Hai kí hiệu: e (mai nưng - dấu một) và j (mai xoong - dấu hai) rất khớp với tiếng

nói của hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng miền bắc Tây Bắc. Ví dụ:

 (can) việc  (cán) đòn gánh

 (cán) vệt khoang  (căn) bờ (ghét bụi dính)

 (cản) cuống (tầu lá)  (cạn) vỡ (bờ ngăn)

II.7.2 Các nhóm Thái khác - vì tiếng nói có 5 thanh hoặc ít hơn lại không theo thứ tự

như thí dụ trên có lẽ bước đầu chưa nên máy móc sử dụng hai dấu e vvà j mà hãy dùng bộ

chữ này được xem như chữ thống nhất để ghi âm thổ ngữ của mình tạm thời không có dấu

thanh như các bộ mẫu tự Thái cổ. Cho đến khi mọi người đã có thói quen tức có đủ trình độ

kĩ năng kĩ xảo chúng ta sẽ dần dần đưa ra các giải pháp thích hợp riêng cũng chẳng muộn

gì.

Trình bày bộ chữ Thái cải tiến ở vùng Tây Bắc tôi mong muốn Hội nghị chúng ta sẽ

có một bộ chữ Thái Thống nhất để ghi âm một cách thuận lợi nhất đầy đủ nhất các thổ ngữ

Thái hiện có. Cách trình bầy của tôi là hoàn toàn nhằm thực hiện phương châm: thống

nhất mẫu tự không thống nhất tiếng nói. Không có loại hình thổ ngữ nào có thể được

chọn làm âm chuẩn mà chỉ có một bộ chữ thống nhất toàn Thái.

III. Việc thống nhất chữ Thái và yêu cầu được sử dụng

Kể từ khi thực hiện Quyết định 153/CP (20/08/1969) của Chính phủ tạm hoãn việc dạy

chữ Thái để tiếp tục nghiên cứu thêm đến nay đã ngót 33 năm chữ Thái ở Việt Nam bất kể

dạng nào kể cả bộ chữ phiên âm được gọi là La tinh (1980) đều không được học và sử dụng

như một phương tiện truyền thông biểu đạt tư duy bằng ngôn ngữ văn tự chính thống trong

xã hội.

Song nếu chúng ta cùng nhau nhận thức thực trạng và hiểu sâu về tâm lí văn hoá người

Thái một trong 54 dân tộc của nước nhà thì rõ ràng dân tộc này hiện vẫn giữ ở chừng mực

nhất định các con chữ của cha ông mình. Có thể thấy ở Sơn la Lai Châu Điện Biên Văn

Trấn thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) người ta vẫn dùng chữ Thái cổ hoặc chữ Thái cải tiến

(1958-1959) để ghi chép những công việc cần thiết trong cuộc sống gia đình và bản làng.

Đồng bào Thái ở nước ngoài vẫn thường xuyên gửi thư bằng chữ Thái về cho bà con mình ở

trong nước. Năm 1993-1994 ở miền Tây Thanh Hoá đã rộ lên phong trào học chữ Thái do cố

chủ tịch Hà Văn Ban đề xướng. Và gần đây vào những tháng cuối năm 2001 Hội đồng nhân

dân huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình đã thực hiện nghị quyết học chữ Thái cổ trong khi chờ

đợi sự thống nhất chữ Thái.

Đứng trước tình hình như thế ta đã ứng xử như thế nào?

1. Năm 1980 Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện

Khoa học Xã hội) đã tập hợp một số chuyên gia trong đó chỉ có 3 người là người Thái

biết chữ và tiếng Thái để xây dựng bộ chữ Thái la tinh. Tôi là một trong những người

được trưng tập trực tiếp làm việc này luôn luôn gọi đây là việc dùng chữ quốc ngữ để

qui ước lại trong phiên âm riêng tiếng nhóm Thái Đen ở Tây Bắc. Việc làm quá dễ vì

chẳng phải suy nghĩ gì. Tôi nhớ rõ ràng nhóm chúng tôi hội ý với nhau 2-3 ngày gì đấy

đã xong ngay bộ chữ. Thời đó Viện Ngôn ngữ học cơ quan chủ trì đã đưa ra giải thích

rằng đây là chữ dùng để "bắc cầu" sang học chữ quốc ngữ cho dễ. Sau đó ông Hoàng

9

Xuyên đã thay mặt Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu kí quyết định công nhận bộ chữ la

tinh này. Năm 1989-1990 Viện Ngôn ngữ học và Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La đã cho ra

đời cuốn Từ điển Thái-Việt của hai tác giả: Hoàng Trần Nghịch - Tòng Kim Ân biên

soạn Nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội phát hành năm 1990. Đây là tác phẩm duy

nhất viết bằng bộ chữ Thái phiên âm hay la tinh. Đến nay tôi có thể nói rằng bộ chữ đã

trôi đi theo năm tháng dư luận người Thái Đen ở Sơn La Điện Biên chẳng bàn luận tốt

xấu gì. Có lẽ họ phản đối nhất là dùng dấu thanh ngã và huyền vào thanh cao và giữa của

tổ cao; dùng g gh ng ngh... là những chỗ ngay trong hệ quốc ngữ la tinh cũng cảm thấy

bất hợp lí v.v...

2. Các năm học 1996-1997 1997-1998 1998-1999 được sự tài trợ của quĩ Toyota thông

qua tổ chức phi chính phủ "Hỗ trợ phát triển văn hoá giáo dục cho vùng dân tộc và miền

núi" (HEDO) Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đã xây dựng mô hình dạy học song

ngữ Việt-Thái. Họ đã cho áp dụng dạy thí điểm tại trường tiểu học xã Chiềng Xôm. Tôi

được anh em ở Sở Giáo dục và Đào tạo Sơn La biếu một số sách giáo khoa và xin ý kiến

đóng góp. Tôi thấy anh em đã dùng bảng hệ thống chữ Thái thống nhất (1955) viết lại

theo cách ghép vần của chữ cổ trong đó có lấy dấu mang tên ếch thô của chữ Lào làm kí

hiệu thanh điệu và gọi tên chữ Thái cải tiến (1958-1959) là mai nưng mai xoong. Như

vậy là "râu ông nọ cắm cằm bà kia" và vô hình trung lại tạo ra một bộ chữ mới cho người

Thái Đen. Tôi biết một trăm phần trăm là không hợp lí nhưng tôi vẫn ủng hộ vui vẻ. Bởi

vì nhờ có việc học và dạy chữ Thái mà nhóm người là đàn em của mình có thêm nguồn

thu nhập. Việc làm này đã truyền lan sang Điện Biên Sở Giáo dục và Đào tạo của tỉnh

đã nhanh chóng dùng sách của Sơn La để dạy thí điểm tại trường tiểu học Bình Minh xã

Chiềng Sinh huyện Tuần Giáo. Thật lạ sau khi biết đọc viết viết học sinh ở đây đã

không dùng dấu ếch thô của chữ Lào mà quay sang dùng dấu e và j (mai nưng mai

xoong) của chữ Thái cải tiến (1958-1959).

Việc làm trên của tỉnh Sơn La Điện Biên đã được Uỷ ban Dân tộc và miền núi UNICEF

- Dự án phát triển dân tộc thiểu số tổng kết lại với báo cáo nhan đề: "Tiếng Thái và tình

hình dạy học tiếng Thái ở các tỉnh Sơn La Điện Biên - Khái quát thực trạng và đề xuất"

- Hà Nội tháng 12/1999. Bản báo cáo không nói tới việc dùng chữ Thái gì để biên soạn

chương trình sách giáo khoa và phương tiện trong dạy học nhưng lại có những nhận

định vô cùng sắc bén về việc sử dụng tiếng Thái. Đọc kĩ báo cáo tôi rất thú vị và vô

cùng thông hiểu về những nhận định như:

..."Theo quyết định 153/CP (1969) việc dạy chữ cải tiến trong trường sở tạm dừng và

toàn bộ các trường tiểu học ở vùng Thái đều dạy thẳng chữ phổ thông từ cấp I (từ lớp vỡ

lòng đến lớp 4). Nguyên nhân ngừng học xen kẽ có thể nhiều nhưng điều cơ bản là chất

lượng học tập của học sinh không đạt được như ý muốn. Đương nhiên cách suy diễn này

chắc gì đã đúng vì hiện nay người Thái cũng như người Tày Nùng đã được học thẳng

chữ phổ thông từ lớp 1 không phải "phiền lòng" vì xen kẽ nữa nhưng chất lượng học tập

rõ ràng không hơn gì trước kia là mấy. Bây giờ mới rõ "đi vòng" hay "đi tắt" đều gặp

nhau ở ngã ba "ngã ba song ngữ" cái "ngã ba" cần nghĩ cách khắc phục dù bằng cách

nào"... (trang 11). Như vậy về học tiếng Thái chắc ta không nên làm nữa mà có thể

khẳng định rằng nếu cứ để tình trạng này kéo lê đi theo năm tháng của lịch sử thì người

Thái sẽ không thành người Kinh và cũng chẳng thành người Thái nốt. Bởi một lẽ tiếng

mẹ đẻ không tự nó trở thành văn hoá nếu không được người ta học và sử dụng nó như

một công cụ văn hoá.

3. Năm 1995 cố giáo sư Cầm Cường Chủ nhiệm chương trình Thái học Việt Nam đã cùng

với nhà nghiên cứu Ngô Thế Long và Ngô Thế Lân đưa bộ chữ Thái vào máy vi tính.

Việc làm này rất tốt vì đây là sáng kiến của Việt Nam đã đặt viên gạch vào vị trí xếp

10

hàng trong quá trình biến bộ chữ Thái thành bộ mã chữ quốc tế. Song thật đáng tiếc khi

đi công tác được tiếp xúc với chữ Thái lan giáo sư Cầm Cường đã nhanh chóng đem bộ

chữ Thái Việt Nam đi gần với mẫu tự của quốc gia này. Như vậy giáo sư lại cho ra đời

một bộ chữ mới nữa cho người Thái ở nước ta. Cũng may bộ chữ vừa xuất hiện tỉnh

Sơn La đã phản ứng ngay rằng việc đưa chữ Thái vào máy tính là hoàn toàn đúng nhưng

không tán thành bộ chữ của giáo sư Cầm Cường.

4. Để tiếp tục công việc tôi đã cùng ông Ngô Trung Việt ở cơ quan mã chuẩn Việt Nam đề

nghị đưa bộ chữ Thái cải tiến vào bộ kí tự mã hoá quốc tế ISO 10646 và Unicode. Tháng

3/1999 chúng tôi được mời sang Nhật Bản để trình bày về việc làm này với nhóm công

tác ISO-IEC/JTC1/SC2/WG2 chuyên phụ trách việc mã hoá các chữ trên thế giới vào bộ

kí tự ISO 10646 và Unicode. Nhóm công tác này đã chấp nhận đề nghị về mã hoá chữ

Thái cải tiến của chúng ta nhưng yêu cầu có thêm thời gian nghiên cứu và thêm các khảo

sát kĩ thuật để cho chín muồi vấn đề. Vì vậy vấn đề vẫn còn được treo đấy.

5. Năm 2000 Chương trình Thái học Việt Nam (Viện Việt Nam học và Khoa học phát

triển) tiếp tục theo đuổi Chương trình nghiên cứu chữ Thái của mình đã đặt ra từ năm

1994.

6. Năm 2001 sau nhiều năm phấn đấu Đại học Quốc gia Hà Nội đã đứng ra làm chủ quản

More...

Chương trình Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ hai

By

 

CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ QUỐC TẾ 
QUẢNG BÁ VĂN HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ 2


Một số hình ảnh hoạt động của các nhà văn trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam từ 5 - 10/2009.


 

Ngày 4 tháng 1 năm 2010 Thứ Hai

SÁNG: - Ban tổ chức  đón tiếp khách quốc tế tại sân bay Nội Bài đưa về khách sạn

             - Nơi ở: Khu Biệt Thự Hồ Tây Khách Sạn Tây Hồ.

TỐI: 18 giờ ban tổ  chức mời cơm thân mật Đại Biểu tham dự Hội nghị 

         tại Nhà hàng Sen - Công viên nước Hồ Tây. 


Ngày 5 tháng 1 năm 2010 Thứ Ba

SÁNG: - 8 giờ 30: Văn nghệ chào mừng

          - 9 giờ: Khai mạc Hội nghị Giới thiệu và quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Hà Nội.

       + Diễn văn khai mạc của nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ  tịch Hội Nhà văn Việt Nam

       + Phát biểu của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước

       + Trao Kỷ niệm chương Hữu nghị cho các nhà  văn dịch giả nhà xuất bản các giáo sư có  công quảng bá văn học Việt Nam

       + Tham luận của các đại biểu quốc tế

TRƯA: - Ăn trưa tại Hội trường

CHIỀU: - 15 giờ 30: Khai mạc triển lãm Giao lưu văn học quốc tế

                                      tại 31 Tràng Thi Hà Nội.

TỐI: Ăn tối tại Khách sạn nơi ở: Khu Biệt thự Hồ Tây Khách sạn Tây Hồ. 


Ngày 6 tháng 1 năm 2010 Thứ Tư

SÁNG: - 9 giờ: Thảo luận theo các nhóm chuyên đề tại Khu Biệt thự Hồ Tây và Khách sạn Tây Hồ

         + Văn học cổ điển Việt Nam ( Khu Biệt thự Hồ  Tây)

         + Văn xuôi Việt Nam hiện đại (Khu Biệt thự Hồ  Tây)

         + Thơ Việt Nam hiện đại ( Khu Biệt thự Hồ  Tây)

         + Gặp gỡ các nhà văn trẻ (Khách sạn Tây Hồ)

TRƯA: Ăn trưa tại khách sạn

CHIỀU: - 14 giờ - 17 giờ : Tiếp tục thảo luận các nhóm chuyên đề.

TỐI: Bộ Văn hóa thể thao và Du Lịch chiêu đãi tại : Khách sạn Sheraton. 
 
 
Ngày 7 tháng 1 năm 2010 Thứ Năm

 SÁNG: Làm việc với các nhà xuất bản

TRƯA: - Ăn trưa tại Khách sạn.

CHIỀU: Thăm quan Văn Miếu  - Quốc Tử Giám Bảo tàng Dân tộc học

TỐI: - 17 giờ: Chủ tịch thành phố Hà Nội chiêu đãi tại Biệt thự Tây Hồ. 


Ngày 8 tháng 1 năm 2010 Thứ Sáu

 SÁNG: - 9 giờ:   + Lễ ký kết các văn bản ghi nhớ dịch văn học Việt Nam giữa Hội Nhà văn Việt Nam với các đối tác nước ngoài.

TRƯA: - 11 giờ 30 Ăn trưa tại khách sạn

CHIỀU: - 14 giờ: Đi Quảng Ninh.

Đêm thơ Quốc tế tại nhà nghỉ Tuần Châu Quảng Ninh

  * Nghỉ đêm tại nhà nghỉ Tuần Châu Quảng Ninh


Ngày 9 tháng 1 năm 2010 Thứ Bảy

 SÁNG: - 9 giờ: Thăm quan Vịnh Hạ Long

TRƯA: - 12 giờ Ăn trưa trên du thuyền

CHIỀU: Tiếp tục thăm quan

TỐI: - UBND tỉnh Quảng Ninh chiêu đãi tại TP Hạ Long Quảng Ninh

   * Nghỉ  đêm tại Nhà nghỉ Tuần Châu Quảng Ninh 


Ngày 10 tháng 1 năm 2010 Chủ Nhật

 SÁNG: - 8 giờ: Đi Yên Tử

TRƯA: Ăn trưa tại Yên Tử ( Trung tâm tôn giáo và văn hóa nổi tiếng)

CHIỀU: - 13 giờ về  Phủ Thành Chương ( Khu Bảo tồn dân tộc học)

TỐI: - 19 giờ: Hội Nhà  văn chiêu đãi

          Xem Biểu diễn Rối nước quan họ Bắc Ninh

         - 21 giờ 30 Trở về khách sạn tại Hà  Nội 


Ngày 11 tháng 1 năm 2010 Thứ Hai

Các đoàn về  nước 
 

                                                                      BAN TỔ CHỨC 


 

DANH SÁCH ĐẠI BIỂU DỰ GẶP GỠ CÁC
NHÀ VĂN TRẺ TẠI HỘI NGHỊ QUẢNG BÁ
VĂN HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ 2

          
Hội nghị quốc tế  quảng bá văn học VN sẽ có 4 cuộc Hội thảo: Văn học cổ VN Văn xuôi VN hiện đại Thơ VN hiện đại Gặp gỡ các Nhà văn Trẻ. Các đại biểu dự buổi gặp gỡ  các Nhà văn Trẻ gồm các nhà  văn nhà thơ dịch giả  trẻ sau:

1. Lương Ngọc An

2. Thụy Anh

3. Phạm Hải Anh

4. Tạ Duy Anh

5. Phạm Đình Ân

6. Như Bình

7. Thành Đức Trinh Bảo

8. Nguyễn Đăng Bảy

9. Phạm Văn Ba

10. Y Ban

11. Bảo Chân

12. Thùy Dương

13. Cao Việt Dũng

14. Trần Tiễn Cao Đăng

15. Vũ Đảm

16. Phong Điệp

17. Văn Giá

18. Trương Nam Hương

19. Đặng Thanh Hương

20. Phan Triều Hải

21. Võ Thị Hảo

22. Trang Hạ

23. Phạm Sông Hồng

24. Nguyễn Xuân Hưng

25. Lê Anh Hoài

26. Trần Kim Hoa

27. Nguyễn Chí Hoan

28. Nguyễn Thị Thu Huệ

29. Phạm Khải

30. Trịnh Lữ

31. Ngô Tự Lập

32. Vi Thùy Linh

33. Bùi Tuyết Mai

34. Nguyễn Phan Quế Mai

35. Trần Thùy Mai

36. Sương Nguyệt Minh

37. Tuyết Nga

38. Phạm Duy Nghĩa

39. Đỗ Thị Minh Nguyệt

40. Lò Cao Nhum

41. Nguyễn Bình Phương

42. Ngô Đình Quỳnh

43. Nguyễn Hữu Quý

44. Nguyễn Trung Quý

45. Cao Duy Sơn

46. Nguyễn Ngọc Tư

47. Phan Huyền Thư

48. Nguyễn Thị Anh Thư

49. Phạm Thị Minh Thư

50. Hồ Anh Thái

51. Trần Anh Thái

52. Chu Thị Thơm

53. Nguyễn Ngọc Thuần

54. Đỗ Bích Thúy

55. Lã Thanh Tùng

56. Nguyễn Đình Tú

57. Trần thị Huyền Trang

58. Hữu Việt

59. Võ Thị Xuân Hà

60. Trần Quang Quý

61. Phạm Ngọc Tiến




MỘT SỐ HÌNH ẢNH

 
Một số hình ảnh hoạt động của các nhà văn trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam từ 5 - 10/2009.
Toàn cảnh hội nghị (Trung tâm hội nghị Quốc gia Mỹ Đình)


Một số hình ảnh hoạt động của các nhà văn trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam từ 5 - 10/2009.
Chủ tịch Hội nhà văn nhà thơ Hữu Thỉnh
và Bộ trưởng Bộ VHTTTT Hoàng Tuấn Anh trong buổi chiêu đãi các nhà văn.


Một số hình ảnh hoạt động của các nhà văn trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam từ 5 - 10/2009.
Đêm thơ Quốc tế tại Tuần Châu (Quảng Ninh)


NGUỒN: phongdiep.net hnv.vn

More...