Nhận được lời bình này của anh Nguyễn Mộng Nhưng, một lần nữa tôi lại cảm động, cảm động như lần tôi viết xong bài thơ này. Đúng như suy cảm của anh Nguyễn Mộng Nhưng, tôi ấp ủ hình ảnh về ông nội tôi, một ông nội trầm tư và lầm lỳ trước mọi công việc, chẳng hề nghe ông kêu ca mỏi mệt bao giờ. Có lẽ ông quen nghèo khổ từ tuổi nhỏ. Ông không được học hành, mười ba tuổi đã phải đi chăn trâu cho nhà Tạo phìa vì bố ông bị phạt vạ do đốt tổ ong làm cháy một gốc cây to trong đống tha ma của mường mà không có bạc nộp. Tạo phìa cưới cho ông một người cũng làm phiên nhà Tạo người bản Lác. Từ đó, hết phiên nợ phạt, ông ở lại bản Lác quê vợ, mở đầu dòng họ Lò ở đây.
Hình ảnh nhỏ thân yêu ấy gợi tôi nghĩ đến thân phận tộc người Thái ở mường Mùn, đã có một lịch sử gian nan thiên di tìm đất, trụ lại khai khẩn bằng mồ hôi, máu và nước mắt suốt chiều dài 7 thế kỷ để có một thung lũng Mai Châu trù phú và thơ mộng như ngày nay. Bài thơ này, ban đầu tôi viết với ý nghĩ đơn giản là để lưu giữ lại hình ảnh người ông thân yêu của tôi đã đi xa, nhưng sau do tác hợp thêm những ám ảnh về thân phận một dân tộc, lại nữa với chức năng của thơ, tôi đã đẩy từ hình ảnh cụ thể về ông nội thành hình tượng của tứ thơ. Bài thơ đã được hoàn chỉnh tại trại sáng tác do Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức tại Bến Tre năm 2006 (Dịp này, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã cầm về Hà Nội và in trên tạp chí THƠ của Hội nhà văn Việt Nam).
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn nhà thơ Nguyễn Mộng Nhưng đã có bài bình cảm động về bài thơ này và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
LÒ CAO NHUM
Khúc tráng ca về người mở đất
Lời bình của Nguyễn Mộng Nhưng
Ông nội tôi khai sinh miền đất
Như mọi họ mạc
Các cộng đồng
Đất nước
Ông nội tôi khai sinh miền đất.
Bắt đầu là gồng gánh núi non
Ở trong núi có mồ hôi của đá
Trong đá kết tinh nỗi khổ
Nỗi khổ ủ niềm khát khao.
Rồi ông vung dao phạt quang mầm đói
Ông chọc lỗ gieo hạt củ no
Sự sống ấm chân trời hoang sơ
Lá nón rách trầm tư canh mùa
Con rơm bù nhìn lật lờ mưa gió.
Mưa lũ cuốn mảng nương xuống vực
Gió nóng hun cháy mùa vàng rực
Hố bom sâu hoắm vườn nương
Ông vẫn đứng như cây bền rễ.
Gan lỳ không phó mặc
Sau lưng ông rồng rắn bao thế hệ
Vẽ lên mặt đất một quy luật sinh tồn.
Thế hệ tôi chưa xa thế hệ ông
Nhưng cũng không còn gặp ông nữa
Ông khai khẩn đất đai và ông đã về hòa với đất.
Tôi tha thẩn lòng mình từ mộ địa cánh rừng
ra mơn mởn vườn nương
Nơi ông từng đứng gan lỳ suốt dọc triền mưa gió
Nghe mạch đất râm ran vọng điều linh thiêng
Hỡi mọi sinh linh mặt đất
Trong ta trú ngụ một Thành Hoàng.
Lò Cao Nhum
(Báo Văn nghệ số 25, ngày 18/6/2011)
Mảnh đất quê hương của mỗi chúng ta được vun đắp bởi công sức của bao thế hệ, dòng họ... Công lao lớn nhất thuộc về những người khai phá đầu tiên. Ở miền biển, người dân gọi những người này là các vị Tổ khai sáng. Như mọi người, Lò Cao Nhum cũng có một quê hương. Mở đầu bài thơ là lời tự giới thiệu đầy tự hào:
Như mọi họ mạc
Các cộng đồng
Đất nước
Tự hào là chính đáng, bởi vì Ông nội tôi khai sinh miền đất.
Buổi đầu tiên ấy thật hoang sơ "Bắt đầu là gồng gánh núi non...". Bối cảnh hệt như trong bài đồng dao cổ này:
Gánh gánh gồng gồng
Gánh gánh gồng gồng
Gánh sông gánh núi
Gánh củi gánh cành...
"Vạn sự khởi đầu nan". Người khởi sự phải là người can đảm, tài trí. Đây là hình ảnh ông nội, một người đàn ông khỏe mạnh, thạo việc: Ông vung dao phạt quang mầm đói / Ông chọc lỗ gieo hạt củ no. Khổ thơ tiếp theo có hai câu thơ dường như không ăn nhập với sự trang trọng của những câu thơ trước: Lá nón rách trầm tư canh mùa / Con rơm bù nhìn lật lờ mưa gió. Những người trẻ tuổi, những người quanh năm sống ở phố thị không thể hình dung nổi đó là một loại rôbốt phục vụ sản xuất, bảo vệ mùa màng do người cổ xưa sáng tạo, đã được Ông nội - một người chẳng những khỏe mạnh, thạo việc mà ông còn là một người khôn khéo tiếp tục sử dụng.
Công cuộc khai khẩn miền đất nơi đây tuy không dữ dội, nguy hiểm đến mức phải mang gươm đi mở cõi (Huỳnh Văn Nghệ), nhưng cũng không ít gian lao, khắc nghiệt:
Mưa lũ cuốn mảng nương xuống vực
Gió nóng hun cháy mùa vàng rực
Hố bom sâu hoắm vườn nương...
Một lần nữa hình ảnh kiên cường của Ông nội được tiếp tục khắc họa: Ông vẫn đứng như cây bền rễ / Gan lỳ không phó mặc.
Tôi cảm nghĩ tứ thơ về ông nội, Lò Cao Nhum đã ủ từ rất lâu, có lẽ từ khi tác giả biết có ông nội trong cõi đời này. Ông nội tôi khai sinh miền đất, điều đó chắc chắn tác giả đã biết từ những năm tháng niên thiếu qua lời kể của người già hay qua chính ông nội kể lại. Vậy mà cho đến tận tháng năm này, khi đứa cháu nhỏ ngày ấy đã trở thành ông ngoại, tác giả mới kể ra, mới nói những điều sâu kín thiêng liêng về ông nội:
Thế hệ tôi chưa xa thế hệ ông
Nhưng cũng không còn gặp ông nữa
Ông khai khẩn đất đai và ông đã về hòa với đất.
Không phải chỉ là lòng tự hào, đây còn là sự biết ơn về tất cả những gì mà ông nội đã tạo dựng: Giống dòng, đất đai... và lớn lao hơn cả là Ông đã vẽ lên mặt đất một quy luật sinh tồn.
Khổ thơ cuối, lô gích tình cảm và lô gích cấu tứ kết hợp và phát triển nhịp nhàng. Từ lòng tự hào, biết ơn tất dẫn đến suy tư về trách nhiệm. Nhịp điệu thơ chậm hơn, mật độ từ ngữ giãn nở chứ không dồn nén như mấy khổ thơ đầu:
Tôi tha thẩn lòng mình từ mộ địa cánh rừng
ra mơn mởn vườn nương
Nơi ông từng đứng gan lỳ suốt dọc triền mưa gió
Nghe mạch đất râm ran vọng điều linh thiêng.
Mở đầu bài thơ là lời giới thiệu trịnh trọng tự hào. Sau những gì đã miêu tả, đã luận giải có sức thuyết phục cao, câu kết bài thơ là một lời kêu gọi, một thông điệp mà tất cả chúng ta đều có thể lắng nghe, vì đây cũng là tiếng vọng của trái tim mình:
Hỡi mọi sinh linh mặt đất
Trong ta trú ngụ một Thành Hoàng.
Trong ta trú ngụ một Thành Hoàng không có nghĩa là "Sống lâu lên lão làng", một câu thành ngữ của người Kinh mặc định một trật tự hiển nhiên. Lão làng không đồng nghĩa với thành hoàng là vị thần được tôn thờ vì đã có công xây dựng và bảo vệ làng xóm như Ông nội tôi khai sinh miền đất. Ông chính là thành hoàng ngụ trong ta và một ngày nào đấy ta cũng có thể trở thành một thành hoàng nếu ngày hôm nay ta đã làm được một việc mang lại lợi ích lớn lao cho làng xóm, cho cộng đồng.
Tình yêu đất nước không phải là cái gì xa xôi, trừu tượng. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc, I.Ê-ren-bua, nhà văn người Nga thế kỷ 19 đã nói như vậy. Nhưng tình yêu Tổ quốc không phải là thuộc tính bẩm sinh mà nó cần được giáo dục bồi dưỡng.
Ông nội tôi khai sinh miền đất không chỉ là khúc tráng ca về người đi mở đất, đây còn là một bài học về tình yêu Tổ quốc. Nhà thơ Lò Cao Nhum lại có thêm một bài thơ hay, ủ nhiều tầng nghĩa (xin được mượn chữ ủ của ông). Trước hết, đó là tình yêu đất nước, con người mà mỗi chúng ta đều có thể cảm nhận.
Hải Trung, trước thu 2011
N.M.N.